Home » » Lỗi dịch vụ trong Windows Server 2008 R2

Lỗi dịch vụ trong Windows Server 2008 R2


Việc sửa chữa sự cố, sai sót Services nào đó là một công việc không hề dễ dàng. Tuy nhiên với một số mẹo nhỏ, các bạn có thể tìm ra nguyên nhân của vấn đề và sửa chữa được máy chủ một cách nhanh chóng. Trong bài này, chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn một số mẹo nhỏ được dùng để sửa chữa sự cố một số sai sót Services như sau.

Phân tích sai sót
Việc đầu tiên mà các bạn cần thực hiện khi thấy thông báo sai sót Services là Phân tích chi tiết sai sót. Điều này là vì có một số trường hợp ứng dụng báo cáo sai sót nhưng thực sự Services vẫn đang hoạt động. Gần giống như vậy, khi start hệ điều hành Windows rất nhiều trường hợp các bạn thấy thông báo sai sót chỉ thị rằng một hoặc một số Services bị sai sót. Tuy nhiên nhiều thông báo này là sai lầm.
Để Phân tích sai sót Services, các bạn cần mở “Service Control Manager” bằng cách chọn lệnh Services từ menu Administrative Tools. “Service Control Manager” sẽ liệt kê mọi Services được cài đặt trên máy, cũng như các Services có trạng thái hiện hành. Bạn có thể thấy “Service Control Manager” như thế nào trong hình



 
Service Control Manager

Nếu thông báo sai sót nhận được có liên quan đến một Services nào đó thì bạn có thể tìm Services đó bên trong “Service Control Manager” (các Services được sắp xếp theo thứ tự abc) và kiểm tra xem Services đó có hoạt động hay không. Nếu nhận được thông báo sai sót chung chung tuyên bố rằng có một hay một số Services bị sai sót khi khởi chạy thì bạn cần tìm Services nào hiện đang hoạt động.
Như những gì có thể thấy trong hình, bạn sẽ thấy rằng không phải tất cả các Services đều đang hoạt động. Việc này là điều thường thấy vì Windows cung cấp bốn kiểu khởi chạy khác nhau cho các Services (một số phiên bản Windows cũ chỉ cung cấp ba kiểu khởi động). Các kiểu này gồm có:
Automatic – Các Services có kiểu khởi động này sẽ tự động khởi chạy khi Windows được khởi động.
Automatic (Delayed Start) – Các Services Automatic được cấu hình với khoảng thời gian trễ nhất định, nó sẽ được tự động khởi chạy sau khi tất cả các Services tự động khác đã khởi chạy xong. Các Services khởi chạy kiểu này dùng mức ưu tiên thấp hơn để bảo đảm máy chủ có thể đáp trả tất cả các Services.
Manual – Các Services được cấu hình kiểu này sẽ không khởi động trừ khi chúng được khởi chạy bởi người dùng (bạn) hay hệ điều hành hoặc một ứng dụng nào đó.
Disabled – Nếu một Services bị làm ngưng hoạt động, nó sẽ không khởi chạy thậm chí bạn có cố gắng khởi chạy nó. Một số Services sẽ bị làm ngưng hoạt động vì một số lý do bảo mật, tuy nhiên cũng có một số trường hợp malware có thể làm ngưng hoạt động một số Services hệ thống. Nếu cần khởi chạy một Services nào đó đã bị làm ngưng hoạt động, bạn có thể thực hiện bằng cách thay đổi kiểu khởi chạy thành Manual hay Automatic (hoặc Automatic Delayed Start) và sau đó mới khởi chạy Services.
Nếu đang cố gắng muốn xác định xem các Services cần thiết có đang chạy hay không, bạn chỉ cần tìm trong danh sách các Services và bảo đảm rằng mọi Services có kiểu khởi chạy Automatic hay Automatic Delayed Start đang hoạt động. Nếu một Services được cấu hình chạy tự động nhưng lại không được khởi chạy thì một số Services khác có thể là nguyên nhân gây ra sai sót.

Kiểm tra bản ghi sự kiện
Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu bạn cố gắng khởi chạy một Services hệ thống nhưng bất thành. Đầu tiên mà chúng tôi gợi ý cho các bạn trong tình huống này là kiểm tra Event Viewer. Trong nhiều trường hợp sẽ có nhiều lỗi vào bản ghi sự kiện xuất hiện khi Services bị sai sót khởi chạy. Các lỗi vào bản ghi này rất có giá trị trong việc trợ giúp bạn xác định ra nguyên nhân gốc của vấn đề.
Vị trí lỗi, vào bản ghi sự kiện được tạo hoàn toàn phụ thuộc vào kiểu Services mà bạn đang gặp vấn đề. Có ba kiểu bản ghi sự kiện chính có thể chứa đựng các thông tin về Services mà bạn đang gặp trục trặc.

Ba kiểu đó gồm:
1, System Log - System Log gồm có các sự kiện có liên quan đến hệ điều hành Windows. Nếu trục trặc trong việc khởi chạy Services có liên quan đến hệ điều hành Windows thì System Log chính là nơi tốt nhất để bạn dò tìm thông tin.
2, Applications and Services Logs – Các phiên bản Windows mới hơn gồm có tập các bản ghi được biết đến với cái tên Application and Services Logs. Applications and Services Logs gồm có chứa các bản ghi cho những ứng dụng như Internet Explorer, Microsoft Office và Windows PowerShell.  
3, Application Log – Hầu hết các ứng dụng thường không tạo các bản ghi chi tiết bên dưới mục Applications and Services Logs mà thay vì đó các thông tin bản ghi liên quan đến ứng dụng được ghi vào Application.
Mặc dù các bản ghi sự kiện là một tài nguyên có giá trị cho việc sửa chữa sự cố sai sót Services, tuy nhiên việc dò tìm thông tin đôi khi gặp phải nhiều khó khăn. Điều này là vì có rất nhiều lỗi vào bản ghi sự kiện mà bạn phải làm nhiệm vụ dò tìm và chọn lọc. Do đó nếu gặp vấn đề về việc dò tìm thông tin có liên quan đến Services, cách thức được hướng dẫn ở đây là dùng chức năng Find của Event Viewer (trong panel Actions). Chức năng này chạy giống như một cỗ máy dò tìm và cho phép bạn dò tìm theo cụm từ có liên quan đến vấn đề đang gặp phải

Khi dò tìm một lỗi vào bản ghi có liên quan đến vấn đề nào đó, bạn chỉ cần kích đúp vào lỗi vào để xem nó. Đôi khi lỗi để vào bản ghi có thể cho bạn biết chi tiết vấn đề là gì. Cho ví dụ, lỗi vào bản ghi chỉ thị rằng Services đã bị làm ngưng hoạt động. Vấn đề này chỉ cần sửa chữa bằng cách kích hoạt lại Services. Mặc dù vậy đôi khi tình huống không dễ dàng như vậy. Trong một số trường hợp các bạn cần lấy số ID của sự kiện để tra cứu trên Internet. Microsoft cung cấp một số bài báo trên TechNet với nhiều giải pháp toàn diện cho các ID sự kiện nào đó.


0 nhận xét:

Hotline : 0982 69 52 57

Phòng kinh doanh

  • Hỗ trợ tư vấn dịch vụ 24/7

    * Mr:Quân

    * Holine: 0982.69.52.57

  • Phòng kĩ thuật

  • Mr:Khoa

    * Hotline: 0975 764 428

  • Bài viết được xem nhiều

    Video